Bỏ qua để đến Nội dung

Hình dung con đường, cách thiết kế chương trình công nghệ chiến lược

1774924498
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng tham quan, trao đổi với các kỹ sư công nghệ tại một triển lãm ở TP Đà Nẵng, ngày 28/7/2025. Ảnh: Nguyễn Đông

Sau 9 tháng ban hành Danh mục Công nghệ chiến lược và tiến hành triển khai, ngoài việc chúng ta đã nghiên cứu phát triển được một số sản phẩm chiến lược, nhìn thấy nhiều hạn chế và tồn tại, điều quan trọng nhất là chúng ta đã hình dung ra khá đầy đủ con đường phát triển CNCL Việt Nam.

Thứ nhất: Ban hành danh mục CNCL phải kèm theo sản phẩm CNCL, công nghệ lõi, và phải sát với nhu cầu phát triển và lợi thế của đất nước.

CNCL là các hướng công nghệ ưu tiên; Sản phẩm CNCL là đầu ra để tạo lập thị trường; Công nghệ lõi là năng lực làm chủ và tự chủ công nghệ.

Có một điểm chú ý quan trọng là, xây dựng danh mục CNCL, sản phẩm CNCL, công nghệ lõi phải xuất phát từ các bài toán lớn quốc gia, chứ không phải xuất phát từ công nghệ. Công thức đúng là đi từ bài toán quốc gia tới sản phẩm chiến lược rồi tới công nghệ. Chương trình CNCL quốc gia phải bao quát đầy đủ các khâu từ nghiên cứu khoa học, tới phát triển công nghệ, phát triển sản phẩm, sản xuất đến thị trường, chứ không rời rạc như trước đây. Và phải kết hợp được cả hai công cụ của nhà nước là ngân sách và chính sách tạo thị trường. Thiết kế chương trình CNCL trước đây tập trung vào công nghệ và ngân sách là chính, chưa chú trọng các chính sách tạo thị trường.

Về danh mục CNCL, Chính phủ đã ban hành tháng 6/2025 và sẽ sửa đổi sau một năm ban hành. Chúng ta sẽ bổ sung các công nghệ chiến lược thuộc các dòng sản phẩm đang là chủ lực của Việt Nam, cả xuất khẩu và trong nước. Làm chủ các công nghệ lõi sẽ vừa tăng năng lực cạnh tranh, vừa tạo giá trị tăng thêm cho các sản phẩm chủ lực. Danh mục CNCL có thể chia làm ba loại, có ngắn hạn, có trung hạn và có dài hạn: 1-3 năm, 3-5 năm và 5-10 năm. 70-80% ngân sách và nguồn lực sẽ dành cho loại 1 và 2, như vậy sẽ vừa có kết quả nhanh, vừa xây năng lực dài hạn.

Kèm theo danh mục CNCL là danh mục các sản phẩm CNCL, danh mục các công nghệ lõi và lộ trình làm chủ đối với từng CNCL. Các sản phẩm CNCL phải kèm theo yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa, các công nghệ lõi phải tự chủ. Các danh mục này mới là mục tiêu cụ thể cần đạt được của chương trình CNCL, chứ không phải danh mục CNCL, nó hướng khoa học công nghệ tới mục tiêu cuối cùng là công nghệ lõi, sản phẩm và thị trường. Các doanh nghiệp tập trung vào các sản phẩm CNCL, các viện trường vào công nghệ lõi.

Thứ hai: Ban hành bộ tiêu chí, tiêu chuẩn, quy chuẩn về CNCL, công nghệ lõi và sản phẩm CNCL.

Tiêu chí lựa chọn CNCL cần phải được ban hành để lựa chọn hướng đi cho đúng.

Việc xây dựng và ban hành tiêu chuẩn phải đi trước (có thể là pre-standard) để định hướng phát triển công nghệ, tạo lập thị trường và thúc đẩy thương mại hóa.

Có tiêu chuẩn mới có thể đấu thầu, nghiệm thu và mua sắm. Tức là tiêu chuẩn giúp hình thành thị trường. Tiêu chuẩn là công cụ dẫn dắt công nghệ. Tiêu chuẩn cũng là điều kiện để sản xuất loạt. CNCL thường mới, rủi ro cao, nên tiêu chuẩn sẽ giúp kiểm soát chất lượng và tạo niềm tin cho thị trường. Tiêu chuẩn cũng giúp tham gia chuỗi toàn cầu.

Nhà nước phải ban hành tiêu chuẩn, gắn tiêu chuẩn với mua sắm công và đồng bộ tiêu chuẩn với chính sách thị trường. Không có tiêu chuẩn thì không có thị trường cho CNCL.

Thứ ba: Tìm ra một số cách triển khai CNCL mới có tính đột phá, ngoài các cách truyền thống.

1. Nhà nước tạo thị trường đủ lớn cho các sản phẩm CNCL. Nhà nước đặt mua số lượng đủ lớn, xây dựng chính sách để tạo ra nhu cầu lớn trên thị trường, cơ chế thử nghiệm nhanh đối với CNCL, sau đó doanh nghiệp bỏ tiền nghiên cứu. Đây là cách hỗ trợ đầu ra, dùng thị trường để phát triển CNCL. Cũng bằng cách này, nhà nước thu hút được đầu tư nghiên cứu từ khu vực xã hội, góp phần quan trọng đạt mục tiêu 2% GDP cả nước chi cho nghiên cứu, tức gấp 5 lần con số 2% ngân sách nhà nước chi cho khoa học công nghệ. Trung Quốc rất thành công theo cách này: với xe điện họ trợ giá; với UAV họ cho phép nhiều ứng dụng trong nông nghiệp; với năng lượng mặt trời, họ bắt buộc một tỷ lệ năng lượng tái tạo. Các sản phẩm CNCL như UAV, camera AI, thiết bị 5G, trợ lý ảo AI, blockchain có thể làm theo cách này.

2. Nhà nước chọn mặt gửi vàng, tức chọn tổng thầu công nghệ. Đối với các chương trình công nghệ quốc gia, dự án công nghệ lớn, rất phức tạp, dài hạn, 5-10 năm hoặc lâu hơn, nhà nước chọn nhà thầu công nghệ chính, chọn doanh nghiệp/viện trường chủ lực phát triển CNCL, và cấp ngân sách hoặc không cấp ngân sách nhưng cam kết đầu ra. Chương trình tên lửa của chúng ta là thực hiện theo cách doanh nghiệp tự bỏ tiền nghiên cứu, nhà nước cam kết mua nếu đạt tính năng tương đương và giá thấp hơn so với nhập ngoại. Còn chương trình sản xuất chip bán dẫn lại theo cách nhà nước cấp ngân sách. Các chương trình lớn khác như như lò hạt nhân module nhỏ, vũ trụ, lòng đất có thể làm theo cách này.

3. Nhà nước là người mua đầu tiên. Cách này áp dụng với các sản phẩm CNCL chưa có thị trường lớn, công nghệ lại khá phức tạp. Cần nhà nước hỗ trợ nghiên cứu và sau đó là người mua đầu tiên. Nhà nước xác định sản phẩm hoặc bài toán CNCL, mời các doanh nghiệp/viện/trường/startup tham gia. Không chỉ định ai. Chọn 3-5 nhóm làm sản phẩm mẫu, rồi giữ lại 1-2 đội có sản phẩm mẫu tốt nhất để tài trợ làm tiếp đến sản phẩm thương mại. Nếu công nghệ đạt yêu cầu, nhà nước thành người mua đầu tiên, tạo thành thị trường đầu tiên cho doanh nghiệp. Nhà nước đóng vai người mua đầu tiên là một trong những công cụ rất mạnh để phát triển CNCL. Các nước đã thành công với cách này là Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, EU. Cách này có thể áp dụng với vệ tinh tầm thấp, chế biến đất hiếm, robot nông nghiệp.

4. Phát triển CNCL cần sự đồng hành của người dùng

Sản phẩm CNCL cần có môi trường thử nghiệm, sự phản hồi liên tục của người dùng, đồng sáng tạo của người dùng. Có nghĩa là người dùng tham gia từ đầu, không phải xuất hiện ở cuối. Sự tham gia tích cực, hiệu quả và từ đầu của các đơn vị sử dụng sẽ góp phần quan trọng tạo nên thành công của các sản phẩm chiến lược. Bởi vậy, chương trình CNCL phải được thiết kế có sự tham gia của người dùng từ đầu.

Thứ tư: Ban hành kế hoạch hành động và giao nhiệm vụ

Xác định từng sản phẩm CNCL, từng công nghệ lõi sẽ phát triển theo cách nào, giao ai, bao giờ xong, cùng các điều kiện đi kèm như nhu cầu thị trường, nhà nước là người mua đầu tiên, ngân sách.

Sau khi mục tiêu, lộ trình, tiêu chuẩn, cách làm, cách đánh giá, thị trường và ngân sách đã được xác định thì việc giao bộ ngành chủ trì phát triển các sản phẩm CNCL là nên làm. Bộ Khoa học và Công nghệ (Bộ KH&CN) giữ vai trò điều phối quốc gia, kiến trúc, thiết kế chương trình CNCL, phân bổ ngân sách và đánh giá hiệu quả.

Thứ năm: Ban hành bộ tiêu chí đánh giá

Xác định bộ tiêu chí đánh giá tác động của CNCL đối với kinh tế - xã hội, đánh giá hiệu quả của chương trình CNCL, hay gọi là hạch toán như lời của Tổng Bí thư Tô Lâm, là việc bắt buộc phải làm.

Tiêu chí phải được thiết kế theo 4 tầng; Input (đầu vào) - Output (đầu ra trực tiếp, như bài báo, công nghệ) - Outcome (kết quả, như doanh thu) - Impact (tác động, như năng suất, tăng trưởng). Chương trình CNCL phải được đánh giá theo bộ tiêu chí phản ánh đầy đủ kết quả từ nghiên cứu đến thị trường, làm cơ sở cho việc phân bổ, điều chỉnh và giám sát nguồn lực.

Một số việc cần làm ngay

Thứ nhất, đối với các sản phẩm CNCL đã được các doanh nghiệp Việt Nam phát triển đạt tiêu chuẩn, cần có ngay chương trình mua sắm của chính phủ, và chính sách dùng hàng Việt Nam để tạo thị trường cho các sản phẩm CNCL này, như UAV, camera AI, 5G, trợ lý ảo.

Thứ hai, cho phép hình thành một số khu thử nghiệm đặc biệt, tại đây các thử nghiệm không phải xin phép. Các sandbox hiện nay rất chậm vì các thủ tục xin phép và mọi người cũng ngại quyết.

Thứ ba, ở cấp bộ ngành và địa phương, cần hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo và giao các trung tâm này đặt hàng doanh nghiệp/viện trường giải quyết các bài toán lớn của bộ ngành và địa phương góp phần trực tiếp vào tăng trưởng hai con số, chủ yếu theo cách chính quyền tạo thị trường và chính quyền là người mua đầu tiên. Để tránh trùng lặp và phổ biến nhanh ra toàn quốc các giải pháp thành công, nhà nước thống nhất một nền tảng số dùng chung để quản lý các bài toán và giải pháp.

Thứ tư, về phân bổ ngân sách khoa học công nghệ. Hiện nay, các bộ ngành vẫn phải đăng ký danh mục đề tài qua Bộ KH&CN rồi qua Bộ Tài chính cấp tiền, có đợt 1/đợt 2, tiền đợt 2 về đến người làm có khi đến tháng 6, tháng 7. Chúng ta có thể đổi mới bằng cách cấp một cục - gọi là block funding - vào thẳng quỹ khoa học công nghệ của các bộ ngành, ngay từ đầu năm, để họ chủ động phát triển công nghệ ứng dụng giải quyết các bài toán ngành. Bộ KH&CN giữ nền tảng số quốc gia quản lý các đề tài để tránh trùng lặp, đánh giá hiệu quả, và đảm bảo phù hợp chiến lược khoa học công nghệ từng giai đoạn. Đây là xu thế thế giới, nó giảm đến 80% thủ tục, tăng trách nhiệm các bộ/ngành, gắn được khoa học công nghệ với các bài toán của từng ngành. Quỹ KH&CN quốc gia thuộc Bộ KH&CN sẽ tập trung vào các nghiên cứu cơ bản, khoa học nền tảng, các đề tài liên ngành, và chương trình CNCL.

Nhà nước tạo ra việc lớn, bài toán quốc gia phải đủ rõ về mục tiêu, quy mô, người mua và mức độ tự chủ, tạo ra thị trường lớn, cơ chế tài chính thông thoáng, nhân sự linh hoạt, xây dựng hạ tầng nghiên cứu hiện đại, cơ chế phân chia lợi ích phù hợp, và việc lớn thì giao tổng thầu công nghệ, thì chúng ta sẽ thu hút được tinh hoa khoa học công nghệ toàn cầu tham gia giải quyết các bài toán lớn của Việt Nam, giúp Việt Nam phát triển và tự chủ CNCL.

Vừa qua, việc triển khai chương trình CNCL chưa được như mong muốn và kỳ vọng lý do chính là do cách tiếp cận, cách thiết kế chương trình chưa tốt, hơn là do thể chế. Nhưng 9 tháng qua đã giúp chúng ta hình thành ra con đường, cách thiết kế chương trình CNCL hiệu quả hơn, như đã trình bày ở trên, để thời gian tới sẽ tạo ra sự thay đổi về chất.

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng

trong VnExpress
Đăng nhập để viết bình luận
Internet vệ tinh Starlink có thể triển khai tại Việt Nam khi nào?
1774922400